 | Xác định chiều sâu cắm bấc thấm |  |
Gửi: C.Nhật 24 1, 2010 5:31 am |
|
|
 |
| Quangdn |
| Quản trị |

 |
| |
| Ngày tham gia | 17 1 2006 | | Số bài | 1196 | | Đến từ | Đà Nẵng | | Trạng thái | Offline |
|
|
|
|
|
|
|
|
 |
Câu hỏi của bạn Nguyễn Thị Thanh Hằng
Sau khi tham khảo những tiêu chuẩn của Việt Nam có đề cập đến công nghệ sử dụng vật liệu thoát nước thẳng đứng như 22TCN - 244: 1998, 22TCN 262 - 2000, cháu nhận thấy chưa có một tiêu chuẩn nào xác định chính xác chiều sâu cắm bấc, hay đưa ra một căn cứ để xác định chiều sâu này. Thưa giáo sư , vậy trên thực tế bấc thấm được cắm đến chiều sâu thiết kế là chiều sâu nào ạ? Vì chúng ta không nhất thiết phải cắm bấc đến hết chiều sâu nén lún của đất. Và hơn nữa nếu chúng ta có chọn chiều sâu nén lún là chiều sâu cắm bấc thì theo cháu được biết những lí thuyết để tính chiều sâu này mà chúng ta áp dụng là dựa trên mô hình đàn hồi. và mô hình này không còn đúng khi áp dụng trong điều kiện Việt Nam , chiều dày của lớp đất yếu rất lớn, lên đến 30 - 40 m và phương pháp này được áp dụng chủ yếu cho những công trình trọng điểm có qui mô và diện tích rất lớn. Thưa giáo sư , giáo sư có thể chỉ cho cháu cách để tìm đọc báo cáo nghiên cứu của KS Phạm Quang Hảo , và TS Nguyễn Trấp, về vấn đề này được không ạ.
Vì kiến thức và kinh nghiệm của cháu trong lĩnh vực này còn rất ngô nghê, nên cháu rất hi vọng nhận được sự truyền đạt của giáo sư. |
|
_________________ Hãy chia sẻ thông tin bạn có, người khác sẽ cung cấp thông tin bạn cần. |
|
|
|
 | |  |
Gửi: C.Nhật 24 1, 2010 5:34 am |
|
|
 |
| Quangdn |
| Quản trị |

 |
| |
| Ngày tham gia | 17 1 2006 | | Số bài | 1196 | | Đến từ | Đà Nẵng | | Trạng thái | Offline |
|
|
|
|
|
|
|
|
 |
Trao đổi của GS Nguyễn Trường Tiến
Cả nhà và Hằng thân mến,
Bức thư và những câu hỏi của Hằng về chiều sâu cắm bấc thấm trong điều kiện đất nền Việt nam là rất lý thú. Tôi c/c thư này đến nhóm thư điện tử để mọi người sẽ góp ý và cung cấp thêm các thông tin cho Hằng. Tôi xin có một số ý kiến sau;
1.Bấc thấm hoặc băng thoát nước thẳng đứng chỉ làm nhiệm vụ tăng nhanh và rút ngắn thời gian cố kết của đất nền dưới tác dụng của gia tải bằng đất đắp, hút chân không hoặc kết hợp cả hai. Bạn phải dự tính được độ lún dưới tải trọng công trình trong tương lai, thời gian lún cố kết, sức chịu tải của đất, khả năng tăng cường độ của đất nền sau gia tải...trong trường hợp có bản nhựa và không có bản nhựa.
2. Chiều dài bản nhựa và khoảng cách giữa các bản nhựa là các thông số người thiết kế phải xác định. Được lựa chọn theo tiêu chuẩn, kinh nghiệm, kỹ năng và điều kiện thực tế. Khoảng cách giữa các bản nhựa và chiều dài bản nhựa quyết định thời gian lún cố kết . Chiều sâu cắm bản nhựa phụ thuộc vào kích thước của lớp đất đắp, tải trọng và chiều dầy lớp đất yếu. Về nguyên tắc là phải được cắm đến hết vùng ảnh hưởng của tải trọng hoặc độ sâu gây lún. Khi đắp đất trên một vùng rộng lớn để làm đường, lấn biển, làm các cụm dân cư vượt lũ, chiều rộng của lớp đất đắp có thể lên tới 50m, 100m, 200 m, vùng gây lún có thể gấp 2 lần kích thước trên . Nếu chiều sâu kết thúc lớp sét yếu là 30-40m như bạn nói, bản nhựa phải được cắm hết lớp đất yếu.
3. Khi gia tải, chất tải để rút ngắn thời gian cố kết bạn phải đảm bảo đất nền không bị phá hỏng về cường độ. Tải trọng có thể được chất theo từng cấp hoặc hút chân không để đảm bảo các điều kiện của bài toán cố kết. Nghĩa là trong mô hình bán không gian đàn hồi. Không nên có suy nghĩ là mô hình này không đúng với đất nền Việt nam.
4. Bạn nên sưu tầm các dự án đã sử dụng bản nhựa để nghiên cứu các thành công và thất bại khi sử dụng công nghệ này. Trong một số trường hợp bản nhựa được cắm nông quá, chỉ khử lún các lớp đất bề mặt. Các lớp đất bên dưới lún kéo dài với thời gian và gây hư hỏng công trình.
5. Tôi hi vọng trong thư viện của Viện KHCN xây dựng có các báo cáo nghiên cứu về áp dụng bản nhựa tại Việt nam của anh Trấp và chị Hảo. Đặc biệt có thể tìm thấy một số báo cáo của Viện Địa kỹ thuật Thụy điển về vấn đề này. Tuy nhiên cho đến nay, kỹ thuật và công nghệ này đã được áp dụng khá rộng rãi và có nhiều tài liệu của nhiều nhà nghiên cứu quốc tế và trong nước. Thí dụ như kết quả của công ty MENARD sử dụng bản nhựa và hút chân không để xử lý đất yếu tại nhà máy khí điện đạm Cà mau. Tháng 11 năm 2009, có hội thảo tại TPHCM với các báo cáo của các chuyên gia Hàn quốc về vấn đề này. bạn cũng có thể tìm kiếm một số sách về xử lý nền đất yếu để có thêm các thông tin, kiến thức và kinh nghiệm.
6. Bạn nên xác định mục tiêu và phương pháp nghiên cứu các nội dung đặt ra để chuẩn bị cho các bước đi của mình. Viết tổn quan về vấn đề mình định nghiên cứu là một kinh nghiệm tốt.
7. Trong nhóm thư điện tử chắc sẽ có nhiều chuyên gia nghiên cứu, thiết kế và viết về vân đề này. Các anh Phạm văn Long, Trần văn Việt, Trịnh Việt Cường, Lê Đức Thắng, chị Lê Thu Hạnh, công ty FECON, Viện KHCNXD... và nhiều bạn đồng nghiệp khác chắc sẽ cho bạn thêm các lời khuyên hữu ích.
An lành và thành công
|
|
_________________ Hãy chia sẻ thông tin bạn có, người khác sẽ cung cấp thông tin bạn cần. |
|
|
|
 | |  |
Gửi: C.Nhật 24 1, 2010 5:40 am |
|
|
 |
| Quangdn |
| Quản trị |

 |
| |
| Ngày tham gia | 17 1 2006 | | Số bài | 1196 | | Đến từ | Đà Nẵng | | Trạng thái | Offline |
|
|
|
|
|
|
|
|
 |
Trao đổi của bác Nguyễn Công Oanh
Chào bạn Hằng và cả nhà,
Tôi có vài ý kiến sau đây,
1. Chiều dài bấc thấm nói riêng hay đường thoát nước thẳng đứng nói chung phải dựa vào tải trọng gia tải cũng như lịch sử chịu tải của nền đất yếu (stress history) nên việc lựa chọn chiều dài hợp lý cần thiết phải dựa vào yêu cầu sử dụng của công trình cũng như những cái bên trên. Trong trường hợp cố kết thường chỉ số nén Cc > chỉ số nén Cs (hay chỉ số nén lại) có khi đến 10 lần. Do đó nếu tải không đủ lớn để có thể đưa các lớp đất dưới đến trạng thái cố kết thường thì theo thiển ý của tôi bấc thấp không nên (hoặc là không) cắm vào các lớp đất kiểu này.
2. Một vài công trình đã xảy ra hiện tượng lún sau khi đưa vào sử dụng (có một số ý kiến cho là từ biến, hay chiều dài bấc thấm cắm không đủ.....) nhưng cá nhận tôi thì nguyên nhân này do việc gia tải không đúng. Tôi lấy ví dụ. Tải trọng hoạt động là 40kPa trong giai đoạn khai thác tương ứng với cao độ +5.50 chẳng hạn, nhưng người dỡ tải vào lúc nền đất yếu đã lún và phần gia tải đang ở cao độ +6.50 chẳng hạn (thậm chí có một số công trình còn không có giai đoạn dỡ tải vì theo lý luận thì tiết kiệm được phần dỡ tải) dẫn đến tải trọng bóc đi là (6.5-5.5)x18kN/m3 = 18kPa (gia thiet vat lieu dap co dung trong la 18kN/m3) do đó khi tải hoạt động 40kPa được đặt vào trong giai đoạn khai thác thì đất trở về trạng thái cố kết thường-------->vẫn lún khá lớn, chưa kể lún thứ cấp (secondary compression). Do đó chiều dài bấc thấm sẽ khó mà quyết định đến việc lún kéo dài.
3. Việc xử lý nền đất yếu bằng bấc thấm còn một liên quan nữa về sức chống cắt tăng lên (strength gain) cho các lớp xử lý. Theo quan sát của tôi thì các lớp đất chịu nén với tải trọng < áp suất tiền cố kết, hay lớn hơn giá trị này không nhiều thì hầu như sức chống cắt không hề tăng hay tăng rất ít (ở thời điểm 95% độ cố kết sơ cấp)--------->Việc cắm bấc thấm vào tầng đất kiểu này là vô nghĩa và không có hiệu quả.
4. Với đất yếu ở khu vực HiepPhuoc TPHCM tôi thấy bấc thấm hiệu quả đến tầm 20-:-25m tương ứng với tải trọng 100~120kPa cho gia tải.
5. Gửi bạn một bài phân tích nhỏ để bạn có thể tham khảo. Trường hợp bấc thấm cắm 38m và trường hợp cắm 20m lần lượt có độ lún cuối cùng là 334cm và 275cm tại thời điểm tắt lún cố kết cho vùng đất gia cố. Do đó có thể nhận thấy rằng khi không cắm bấc thấm ở phần 18m bên dưới thì độ lún giảm đi là 59cm. Câu hỏi đặt ra là phần này sẽ lún trong thời gian khai thác hay không? Có thể trả lời là không vì tầng bên dưới không có bấc thấm nên nước không thể thoát lên----->dẫn đến không thể có hiện tượng lún cho vùng này khi đưa vào khai thác (với tải trọng <= tải gia tải). Tử t=780 ngày thì cả hai trường hợp này cho độ thị lún hầu như nằm ngang. Nên chiều dài bấc thấm không quyết định nhiều đến lún sau thi công (post construction settlement)

6. Phần nén thứ cấp có thể xem như hai trường hợp này như nhau để thiên về an toàn. Và phần này có thể được giảm thậm chí triệt tiêu bằng việc gia tải sao cho thời điiểm dỡ tải với chiều cao sao cho phần này > 1.20 hay hơn tuy thực tế tính toán đối với phần tải trọng khai thác.
Tôi gửi lên một đồ thị để bạn xem xét trong việc quyết định chiều sâu đóng bấc thấm.

|
|
_________________ Hãy chia sẻ thông tin bạn có, người khác sẽ cung cấp thông tin bạn cần. |
|
|
|
 | |  |
Gửi: C.Nhật 24 1, 2010 5:44 am |
|
|
 |
| Quangdn |
| Quản trị |

 |
| |
| Ngày tham gia | 17 1 2006 | | Số bài | 1196 | | Đến từ | Đà Nẵng | | Trạng thái | Offline |
|
|
|
|
|
|
|
|
 |
Trao đổi tiếp của Nguyễn Thị Thanh Hằng
Kính gửi thầy Nguyễn Công Oanh,
Trước tiên , em xin chân thành cảm ơn những ý kiến của thầy xoay quanh vấn đề mà em quan tâm.
Có một số điểm em vẫn chưa hiểu lắm và xin thầy giải thích thêm :
Thầy có đưa ra cho em một bài phân tích nhỏ so sánh về trường hợp cắm bấc 38 m và cắm bấc 20 m . Trong trường hợp cắm bấc 20 m , không cắm bấc ở phần 18 m bên dưới , thì trong thời gian khai thác , theo ý kiến của thầy, phần này sẽ không lún trong thời gian thi công vì tầng bên dưới không có bấc thấm và nước không thể thoát lên. Thầy có thể giải thích rõ hơn được không ạ. Vì theo em nước trong đất có thể thấm theo nhiều phương và cho dù phần đất này không được cắm bấc thì vẫn có thể vẫn lún. Và theo như ý kiến của giáo sư Nguyễn Trường Tiến , thì các lớp bên dưới lún kéo dài với thời gian và gây hư hỏng công trình. Do đó bấc vẫn phải được cắm đến hết chiều sâu nén lún hay hết vùng ảnh hưởng của tải trọng. Hơn nữa còn những nguyên nhân bất thường khác gây ra lún như thay đổi mực nước ngầm, mực nước ngầm bị hạ xuống để thi công hố móng, điều này có gây ảnh hưởng gì không ạ?
Theo những kiến thức còn hạn chế của em, phương pháp gia tải trước kết hợp thoát nước thẳng đứng là phương pháp thích hợp phục vụ cho phát triển cơ sở hạ tầng cần phát triển lún cố kết nhanh hơn, như móng công trình đê chắn sóng, cảng , nhà máy có qui mô lớn, đường giao thông. Như vậy có những trường hợp do bắt buộc phải hạn chế thời gian thi công mà ta cần đến ứng dụng của bấc thấm, tuy nhiên qui mô công trình quá lớn và chiều dày tầng đất yếu quá lớn , nếu cắm hết phạm vi nén lún thì cần phải cắm bấc có khi đến độ sâu 40 m hoặc hơn, nhưng công nghệ hiện nay chỉ cho phép cắm đến 40m. Vậy có phương pháp nào hữu hiệu hơn bấc thấm trong trường hợp này không ạ, hoặc nếu phải sử dụng vật liệu thoát nước thẳng đứng , thì đã có nghiên cứu nào chỉ ra chiều sâu hữu hiệu chưa ạ. Như là nếu không cắm hết chiều sâu nén lún hay phạm vi ảnh hưởng của tải thì phải cắm đến đâu ạ ?
Những câu hỏi của em không tránh khỏi nhiều điểm còn ngây ngô, do kiến thức và kinh nghiệm của em còn hạn chế. Mong các thầy và các anh các chị giải đáp cho em ạ.
Em xin chân thành cảm ơn.
|
|
_________________ Hãy chia sẻ thông tin bạn có, người khác sẽ cung cấp thông tin bạn cần. |
|
|
|
 | |  |
Gửi: C.Nhật 24 1, 2010 5:51 am |
|
|
 |
| Quangdn |
| Quản trị |

 |
| |
| Ngày tham gia | 17 1 2006 | | Số bài | 1196 | | Đến từ | Đà Nẵng | | Trạng thái | Offline |
|
|
|
|
|
|
|
|
 |
Chào bạn.
Mình đính chính cái mình không phải là giảng viên.
Về thắc mắc của bạn phần biến dạng dưới đáy bấc thấm (vùng 18m bên dưới) tôi có thể giải thích đơn giản như sau:
Đúng là nước trong đất có thể thấm theo nhiều phương, tuy nhiên nếu biên thoát nước ở xa mà hệ số thấm của đất yếu lại rất bé (mE-7cm/s) thì nên xem như không thoát nước. Với bài toán trên thì tôi có kể biên thoát nước nằm bên dưới nữa nhưng ở t=780 ngày thì đồ thị hầu như nằm ngang -------->kết luận từ t=780 ngày trở về sau không còn độ lún gây ra do cố kết sơ cấp. Vả lại ở thư điện tử thứ 2 tôi đã trình bày một đồ thị về ứng suất bản thân (hữu hiệu), ứng suất tiền cố kết và tải trọng ngoài là 110kPa thì bạn thấy rất rõ là đến cao độ -20m thì đất ở trạng thái cố kết thường với hiệu số sigama'c-sigma'v0 khá bé nên trong vùng này khi gia tải có thể nói là bấc thấm mang lại hiệu quả khá tốt. Tuy nhiên với lớp đất từ cao độ -20.0m trở xuống thì hiệu số sigama'c-sigma'v0 lớn nên lớp này đang ở trạng thái cố kết trước, ngay cả khi chịu tải 110kPa thì lớp này cũng mới vừa đến giai đoạn cố kết thường nên độ lún vùng này nhỏ và không cần quan tâm lắm.
Một điều nữa là qui trình của ta qui định vùng nén lún đến độ sâu mà ứng suất do tải trọng ngoài đạt 10-20% ứng suất bản thân mà hoàn toàn không đề cập đến ứng suất tiền cố kết (là nhân tố quan trọng) tôi cho rằng chưa thỏa đáng nếu dùng điều kiện này để xác định chiều sâu cắm bấc thấm.
Vậy có phương pháp nào hữu hiệu hơn bấc thấm trong trường hợp này không ạ, hoặc nếu phải sử dụng vật liệu thoát nước thẳng đứng , thì đã có nghiên cứu nào chỉ ra chiều sâu hữu hiệu chưa ạ. Như là nếu không cắm hết chiều sâu nén lún hay phạm vi ảnh hưởng của tải thì phải cắm đến đâu a.?
Phương pháp hữu hiệu thì bạn có thể xét vào biểu đồ thứ 2 mà tôi gửi lên mà quyết định chiều sâu cắm. Một điều cần chú ý là với sức chống cắt bé thì khi đắp bị mất ổn định cho nền, bạn có thể dựa vào chiều sâu bán kính cung trượt nguy hiểm nhất để chọn vùng cần xử lý bấc thấm thì có lẽ hợp lý hơn. Và việc lựa chọn này chung qui lại nó phụ thuộc vào tải trọng khai thác của công trình, lịch sử chịu tải của nền (stress history). Trong trường hợp ví dụ trên thì với tải 200kPa chẳng hạn thì vùng hiệu quả của bấc thấm tất nhiên là sâu hơn. Theo tôi hiểu thì biện pháp xử lý dùng bấc thấm là rẻ nhất trong các biện ppháp giếng cát (sand drain) cọc cát đầm (sand compaction pile) và CDM (cement deep mixing) tuy nhiên nếu không có thời gian chờ thì có thể dùng cọc cát đầm hoặc CDM. Về nghiên cứu vùng hiệu quả thì tôi không biết đã có nghiên cứu nào chưa nên không thể trả lời, tuy nhiên với tôi việc lựa chọn vùng hiệu quả thì có thể gói gọn trong mấy ý kiến của tôi bên trên.
Việc thay đổi mực nước ngầm tất nhiên là ảnh hưởng rồi vì nó ảnh hưởng lên tải trọng gia tăng thêm khi mực nước hạ thấp thì chính là lúc áp suất hữu hiệu tăng lên-------->lún thêm cho nền công trình. Và điều này thường ít được đề cập (tuy nhiên cũng có những dự án yêu cầu với mực nước rất thấp so với mực nước hiện hữu) và yếu tố này nếu cần thì vẫn có thể tính toán được trong bài phân tích để ước lượng phần độ lún do hạ mực nước ngầm này, lúc đó thì chiều sâu bấc thấm cũng phải quyết định dựa trên tải trọng công trình+phần tải trọng tăng thêm do hạ mực nước ngầm cho trước. |
|
_________________ Hãy chia sẻ thông tin bạn có, người khác sẽ cung cấp thông tin bạn cần. |
|
|
|
 | |  |
Gửi: C.Nhật 24 1, 2010 5:56 am |
|
|
 |
| Quangdn |
| Quản trị |

 |
| |
| Ngày tham gia | 17 1 2006 | | Số bài | 1196 | | Đến từ | Đà Nẵng | | Trạng thái | Offline |
|
|
|
|
|
|
|
|
 |
Trao đổi của GS Nguyễn Trường Tiến
Chào cả nhà và Hằng,
Tôi rất đồng ý với ý kiến của anh Oanh về chiều sâu cắm bấc thấm và các giải pháp xử lý nền sâu bằng giếng cát, cọc cát đầm chặt và cọc đất xi măng. Nhật khi xây dựng sân bay Kansai trên biển đã phải xử lý nền đất yếu rất sâu, lớn hơn 50m. Phương án cọc cát đầm chặt đã được sử dụng là chủ yếu. Phương án bản nhựa và gia tải trước là một phương án kinh tế, đồng thời cho phép kiểm soát được độ lún và tốc độ lún.
Một số công trình đường giao thông được xây dựng bằng việc đắp đất trên đất yếu đã bị lún kéo dài, trượt lở, nứt và nhiều người đưa ra khái niệm " đường chờ lún" và thông báo trên đường như một sự thách thức nghề nghiệp. Tại đường dẫn lên câu Văn thánh, Thành phố Hồ chí Minh, bản nhựa được cắm xuống độ sâu khoảng 15 m, trong lúc tầng bùn yếu dầy 30m, chiều rộng lớp đất đắp là khoảng 50m, chiều cao lớp đất đắp là 6-10m đã gây hư hỏng nền đường nhiều năm và làm nghiêng các công trình lân cận. Khi cắm bản nhựa đến độ sâu 15m, chỉ có các lớp đất đến độ sâu này là được khử lún và tăng nhanh quá trình cố kết. 15m đất bên dưới là cố kết trong điều kiện bình thường. Với chiều rộng đất đắp là 50m, ứng suất do tải trọng đất đắp có ảnh hưởng rất sâu. Hằng có thể đặt bút tính thử độ lún của dự án trên và một số dự án khác của anh Oanh giới thiệu, sẽ cho những thông tin hữu ích. Người kỹ sư là nên làm việc với sơ đồ cơ học, công thức và kết quả tính toán.
Các vấn đề về ứng suất cố kết trước, lún thứ cấp, áp lực nước lỗ rỗng, hạ mức nước ngầm, hệ số thấm theo phương ngang, điều kiện biên, kích thước diện tích gia tải, tải trọng công trình, điều kiện địa chất...đóng vai trò rất quyết định đến độ sâu cắm bản nhựa và tính toán bài toán cố kết. Lý thuyết cố kết thấm là của Terzaghi, cha đẻ của ngành cơ học đất. Cố học cách làm việc của Thầy : tưởng tượng, mô hình cơ học, vẽ trên giấy và thực hiện các phép tính của người kỹ sư.
Chúc cả nhà và Hằng thành công
|
|
_________________ Hãy chia sẻ thông tin bạn có, người khác sẽ cung cấp thông tin bạn cần. |
|
|
|
 | |  |
Gửi: C.Nhật 24 1, 2010 11:24 pm |
|
|
 |
| KSCH |
| Quản trị |

 |
| |
| Ngày tham gia | 05 6 2006 | | Số bài | 902 | | Đến từ | Bên bờ ao nhà mình | | Trạng thái | Offline |
|
|
 |
|
|
|
|
|
 |
Xin cảm ơn bác Quangdn dạo này luôn tích cực Post các trao đổi trong Nhóm thư điện tử của Hội Địa kỹ thuật Việt Nam VSSMGE.
Việc họp Ban chấp hành Hội mở rộng ngày 7/2/2010 sắp tới chắc sẽ bàn thảo một số vấn đề để xốc lại tổ chức, cách thức hoạt động Hội, nâng cao ích lợi cho cộng đồng kỹ sư xây dựng công trình VN.
Mời xem thông báo tại: http://www.ketcau.com/forum/showthread.php?t=9978
Thân ái.
|
|
_________________ Life-long Learning |
|
|
|
Diễn đàn bachkhoadanang.net » Địa Kỹ thuật - Nền và Móng Công trình
Bạn không có quyền gửi bài viết Bạn không có quyền trả lời bài viết Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|
Thời gian được tính theo giờ [GMT+ 7 giờ]
Trang 1 trong tổng số 1 trang
|
|
|
|
|
|