Trong những năm qua, việc đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng đặc biệt là giao thông đường bộ tại thành phố Đà Nẵng đã diễn ra hết sức mạnh mẽ, góp phần hoàn thiện mạng lưới giao thông thành phố, nâng cao đời sống dân cư và tạo cơ sở phát huy tiềm năng kinh tế của của địa phương.
Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đang xảy ra hiện tượng khan hiếm nguồn đất đắp đáp ứng điều kiện kỹ thuật để sử dụng cho lớp đắp chọn lọc trên cùng của đỉnh nền (K98), vốn được chỉ định trong hầu hết các kết cấu mặt đường trong các dự án hạ tầng.
Lớp cấp phối đá dăm cũng thường được thiết kế khá dày theo truyền thống và quy trình thi công thường phải chia nhiều lớp tốn khá nhiều thời gian và phát sinh rất nhiều bụi trong quá trình thi công, gây ảnh hưởng lớn đến môi trường xung quanh, đặc biệt là các dự án trong các khu đông dân cư.
Trong tương lai không xa, các nguồn vật liệu trên sẽ dần dần cạn kiệt nếu không có các giải pháp sử dụng các nguồn vật liệu xây dựng trên tiết kiệm hơn. Điều này dẫn tới một nhu cầu cần tìm loại vật liệu mới hoặc điều chỉnh phương pháp thiết kế mặt đường để phù hợp với tình hình thực tế và trong tương lai, khi các dự án lớn được triển khai trong khu vực, ví dụ như dự án đường nối Nguyễn Tri Phương nối dài đi Hòa Quý, đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi,… nơi sẽ cần một khối lượng rất lớn đất đắp và đá dăm các loại nếu thiết kế và xây dựng theo kết cấu truyền thống.
Vì thế, việc nghiên cứu tìm kiếm những loại vật liệu mới/công nghệ thi công mới có thể làm nền móng đường thay thế các vật liệu truyền thống cần được quan tâm.
Loại vật liệu / công nghệ mới phải đảm bảo tính kinh tế khi so sánh với các loại vật liệu truyền thống, nhưng phải đảm bảo thỏa mãn tất cả các chỉ tiêu kỹ thuật của kết cấu mặt đường truyền thống. Giải pháp dùng phụ gia hóa học vô cơ để gia cường vật liệu tại chỗ hoặc vật liệu không đạt yêu cầu kỹ thuật trở nên tốt hơn là một trong các hướng nghiên cứu để giải quyết vấn đề trên.
Một nhóm Kỹ sư Xây dựng ở Đà nẵng, với sự phối hợp hỗ trợ của Hội Địa Kỹ thuật Việt Nam đã chuẩn bị bắt tay vào đề tài NCKH về chủ đề này với các nội dung tóm tắt như sau:
1 Đối tượng nghiên cứu, đối tượngkhảo sát, phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: +Lớp vật liệu đất đắp K=0,98 và lớp cấp phối đá dăm; +Một số phụ gia hóa học có khả năng thay đổi tính chất cơ lý của đất đá (Consolid của Thụy Sỹ và RRP của Cộng Hòa Liên bang Đức...) - Phạm vi nghiên cứu: + Chiều dày, chủng loại vật liệu (có/không có gia cố chất kết dính) để nâng cao mô đuyn đàn hồi của vật liệu làm kết cấu nền áo đường, đảm bảo yêu cầu về kỹ thuật; + Công nghệ thi công vật liệu mới làm nền áo đường
- Đối tượng khảo sát: + Các mỏ đất, đá, cấp phối đá dăm hiện trạng đang được khai thác trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; + Đất nền đào của một số dự án giao thông đang triển khai;
2. Nội dung nghiên cứu:
Lựa chọn phụ gia hóa học để gia cường vật liệu đất không đạt yêu cầu kỹ thuật (vật liệu đất tại tại chỗ hoặc tại mỏ) để trở nên tốt hơn, đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật đối với kết cấu nền áo đường; + Sử dụng xi măng để gia cố vật liệu CPĐD thành CPĐD gia cố xi măng hoặc sử dụng phụ gia hóa học để gia cố đất thay thế một phần hoặc toàn bộ lớp cấp phối đá dăm.
3. Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu: Định hướng cho việc nghiên cứu là tìm giải pháp để tăng môđuyn đàn hồi của hệ kết cấu để đảm bảo mô đuyn chung đáp ứng mô đuyn đàn hồi theo yêu cầu đạt hiệu quả nhất; Ngoài ra yếu tố ổn định nước của loại vật liệu mới này cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng với tình hình chế độ thủy văn khắc nghiệt của khu vực Đà nẵng nói riêng và miền Trung Việt Nam nói chung. - Phương pháp nghiên cứu đề tài: Phương pháp thực nghiệm.
4. Kế hoạchthực hiện đề tài
Stt
Nội dung
Thời gian
Sản phẩm
1
Lập đề cương chi tiết
0,25 tháng
Đề cương được duyệt
2
Kiểm tra đánh giá các mỏ vật liệu, đất đá trên địa bàn thành phố Đà nẵng (trữ lượng, chất lượng...) và kiểm tra chất lượng đất nguyên thổ tại một công trình giao thông
(Đất tại nền đào)
01 tháng
Báo cáo đánh giá
3
Thu thập thông tin, lựa chọn một số phụ gia hóa học có tính năng gia cường đất đá làm thí nghiệm trong phòng
01 tháng
Báo cáo đánh giá
4
Nghiên cứu, thiết kế, thực hiện các mẫu vật liệu đất gia cố bằng phụ gia, mẫu cấp phối đá dăm gia cố xi măng với các hàm lượng khác nhau (Thí nghiệm trong phòng)
01 tháng
5
Đánh giá kết quả thí nghiệm trong phòng
0,25 tháng
6
Thử nghiệm các kết quả đạt được trong phòng ra thực tế một công trình giao thông đang triển khai
Hai tuần
Báo cáo kết quả thực nghiệm
7
Tổng kết, đánh giá, Hội thảo
0,5 tháng
Báo cáo tổng kết
( Ghi chú:- Mục 2 và 3 được thực hiện đồng thời; Mục 4 và 5 được thực hiện đồng thời 5. Sản phẩm chính của Đề tài và yêu cầu chất lượng cần đạt:
Đề xuất được loại vật liệu sau khi xử lý bằng các loại phụ gia hóa học đảm bảo được các yêu cầu kỹ thuật đối với kết cấu nền – áo đường nhưng mang lại hiệu quả kinh tế và xã hội.
6. Hiệu quả kinh tế - xã hội, khả năng ứngdụng và phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu:
Hiệu quả kinh tế - xã hội:
- Hiệu quả kinh tế tăng cao do tiết kiệm được thời gian và kinh phí xây dựng; - Giảm thiểu ô nhiễm môi trường do tận dụng được nguồn vật liệu đất, xi măng tại chỗ, cũng như nguồn vật liệu trước đây phải loại bỏ - Khắc phục được phần nào tình trạng khai thác vật liệu đất, đá ồ ạt hủy hoại môi trường địa phương, phục vụ chiến lược quy hoạch các mỏ vật liệu xây dựng dài hạn hơn;
Khả năng ứng dụng và phương thức chuyển giaokết quả nghiên cứu:
Kết quả nghiên cứu nếu thành công sẽ được áp dụng rộng rãi trong tất cả các công trình xây dựng giao thông không chỉ trong địa bàn thành phố mà còn ở nhiều địa phương khác trên cả nước; Nhóm nghiên cứu đã liên hệ với các đối tác sẵn sàng chuyển giao công nghệ và thiết bị đặc chủng cho bất kỳ cơ quan đơn vị nào có nhu cầu để ứng dụng rộng rãi kết quả nghiên cứu của đề tài này.
Thông tin tổng quan về nguyên lý làm việc đất gia cố theo công nghệ này
TT (KIÊN GIANG) - “Tuyến đường Dương Đông - Cửa Cạn, Dương Đông - Cửa Lấp trên huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang) đang thi công chậm tiến độ một phần do thiếu sỏi đỏ phục vụ thi công” - ông Nguyễn Văn Chánh, giám đốc Sở Giao thông vận tải Kiên Giang, cho biết.
Tình trạng này cũng sẽ ảnh hưởng đến tiến độ thi công tuyến đường trục, đường vòng của đảo, dự kiến hoàn thành trong tháng 12-2010.
Để giải quyết tình trạng này, ông Lâm Hoàng Sa - phó chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang - cho biết đã thống nhất cho khai thác tám mỏ đất sỏi đỏ nằm trên đảo với tổng diện tích hơn 61ha. “Các mỏ trên khai thác chỉ phục vụ các công trình giao thông chứ không được khai thác cho mục đích khác” - ông Sa cho biết.
Hiện nhu cầu đất sỏi đỏ làm vật liệu đắp nền đường phục vụ các công trình giao thông trên đảo Phú Quốc khoảng 2,9 triệu m3. Tuy nhiên các mỏ nói trên chỉ đáp ứng khoảng 2,6 triệu m3.
Đây là thư của một bạn có địa chỉ mail ngochungdkt@gmail.com gởi vào hộp thư của quandn vào 19-1-2010, có lẽ do trục trặc kỹ thuật chưa post lên diễn đàn được. Nhận thấy nội dung mail cũng có thông tin hữu ích cho mọi người nên tôi copy lên để cả nhà tham khảo.
Đọc bài viết của anh Quang về việc thực hiện đề tài nghiên cứu trên em xin có mấy ý kiến nhỏ:
1. Về chất lượng nguồn vật liệu đất đồi và cấp phối đá dăm khu vực TP Đà Nẵng và Quảng Nam theo em là đáp ứng được. (riêng đất đắp mỏ khu vực Hoà Nhơn cần xem lại tầng hữu ích (đới) để khai thác đắp K95 hay K98. CPDD vùng Đại Hiệp cũng vậy). Khi đánh giá chất lượng mỏ em đã làm thí nghiệm 2 phòng Las tại Đà Nẵng, 1 Las Quảng Nam và tự mình thực hiện TN riêng biệt. Kết quả đa số cho giá trị chỉ số dẻo không đạt. Em thấy rằng chỉ số dẻo là chỉ tiêu dẫn xuất và phụ thuộc vào Wl, Wp mà chỉ tiêu này phụ thuộc quá lớn vào tay nghề thí nghiệm viên. Thành phần hạt thì đa số phù hợp với quy trình. Mặc khác vấn đề các phòng đưa ra chỉ tiêu dung trọng khô max và độ ẩm tối ưu cũng có vấn đề khi các phòng Las đưa ra giá trị quá an toàn dẫn đến số lần lu lèn tăng và độ chặt K khó đạt Kyc. Giá trị CBR cho kết quả khá chính xác.
2. Em đã tập hợp một số thông tin về trữ lượng, vị trí, chỉ tiêu cơ lý một số mỏ vùng Đà Nẵng và Quảng Nam từ bước Khảo sát đến thực tế thi công anh cần thì em gửi tham khảo.
3. Hiện nay trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có không dưới 40 phòng Las, thế nhưng đã có mấy ai kiểm chứng rằng chất lượng phòng Las thực hiện các phép thử nghiệm đúng quy trình, quy phạm chưa? 1 số kỹ sư TVGS không đủ khả năng nghiệp để kiểm tra các phép thử của phòng Las cũng là 1 vấn đề cần xem xét.
Em chúc anh cùng nhóm công tác sức khoẻ, sớm đưa đề tài vào ứng dụng thực tiễn. Về phần mình em luôn lắng nghe và sẽ giúp sức nhỏ của mình nếu Nhóm cần.
Trân trọng!
Chào bạn,
Xin lỗi vì mình không biết chính xác tên bạn để xưng hô. Rất cảm ơn các thông tin góp ý của bạn về đề tài này. Nếu bạn đã có làm công việc này rồi và đã có nhận xét khá sâu sắc như vậy, mình mời bạn cùng tham gia để thực hiện và phát triển đề tài, nhằm tận dụng được tất cả các nguồn lực và thông tin. Đây là một đề tài dài hơi và sẽ cần rất nhiều công sức để làm cho nó trở trành hữu ích và ứng dụng được chứ không phải chỉ làm để đăng ký thành tích hoặc báo cáo nghiên cứu khoa học . Theo khảo sát sơ bộ của mình và kinh nghiệm khi tham gia giám sát tuyến tránh Đà Nẵng, trữ lượng đất dùng đắp ở khu vực Đà Nẵng còn lại rất ít và đặc biệt thường chỉ có một lớp phía trên là đạt yêu cầu. Khi bóc xuống cỡ 2-3m đều gặp đất có hàm lượng hạt sét cao nên các chỉ tiêu cơ lý như chỉ số dẻo, thành phần hạt, CBR đều bất lợi. Nguồn đất tốt nhất còn lại ở Đà Nẵng tập trung trong khu Công nghiệp Hòa Cầm, nhưng giờ đã có chủ trương không cho đem ra ngoài, chỉ sử dụng làm vật liệu đắp cho các dự án trong Khu CN này. Đất ở Quảng Nam thì phong phú hơn nhiều và thường rất tốt cho công tác đắp, nhưng vướng về cự ly phân bố. Có những vùng ven biển như Duy Xuyên 1m3 đất đắp từ Quế Sơn chở về đến công trình có giá lên đến 120.000 VND ! Do đó việc xem xét sử dụng được nguồn cát tại chỗ để làm đường cũng là một nhu cầu rất cấp bách.
Thân chào.
Ps Nếu có thông tin về vị trí, trữ lượng mỏ đât ở khu vực xin gởi cho mình theo địa chỉ mail maitrieuquang@gmail.com, hoặc cho mình địa chỉ/số đt của bạn, mình sẽ đến xin trực tiếp.
Mai Triệu Quang
_________________ Hãy chia sẻ thông tin bạn có, người khác sẽ cung cấp thông tin bạn cần.
Đây là thư của GS Nguyễn Trường Tiến về đất gia cố vôi do người Mỹ đã thực hiện tại Việt Nam thời gian chiến tranh
Chào cả nhà, Cám ơn các thư của Nga và của Toản. Câu chuyện làm đường và cơ sở hạ tầng là chìa khóa của sự phát triển. Kể cả việc làm đê chắn biển khi nước biên dâng cao, đều là các bài toán của địa kỹ thuật, đất yếu, đắp đất, làm đường....Tôi xin nói rõ về một người bạn Mỹ rất tốt như sau Ông Nat Fox đã sang Việt nam từ 1968-1973, là PhD, thiếu tá quân đội Mỹ. Người có nhiều phát minh sáng chế quan trọng. Chuyên gia về xử lý nền đường bằng xi măng, vôi. rât thành công ở Đồng bằng sông Cửu long. Tài liệu thí nghiệm, thực nghiệm,quy trình thi công, các đoạn đường làm thử, đều còn nguyên, cho dù đã 40 năm . Các bạn đã từng hợp tác với ông Nat đều sẵn sàng sang Việt nam. Công nghệ thi công rất giống CONSOLID. Ông Nat đã sang Việt nam từ 1998.Đã quay lại kiểm tra các đoạn đường làm cũ. Kết quả rất tốt. Anh Lại xuân Dũng, anh Đặng Đình Nhiễm, chị Lê Thu Nga, anh Nguyễn Nhật Tân, anh Nguyễn Công Giang, chị Lê Thu Hạnh...biết Dr Nat rất rõ. Là một người Mỹ tốt, rất giỏi và rất tình cảm.Tôi đã sang Mỹ gặp ông Nat nhiều lần. Một lần ở Arizona, vào tháng 10/ 2001, sau ngày Thap đôi bị phá hủy, trong văn phòng làm việc của hãng Geopier,ông ấy thì thào giới thiệu cho tôi các bí mật quân sự về thí nghiệm vôi đất ở Việt nam, với các slides màu, lưu giữ hơn 40 năm trong Thư viện Bộ quốc Phòng Mỹ, mới được khai thác. Nói rằng việc tôi nói với ông hôm nay, rất có ích cho Việt nam. Tài liệu của chuyến đi , hiện AA lưu giữ.Ông ấy học IOWA, đã giúp Trường cũ và TS Phạm Thúc Vân Hà. Vì cuộc chiến ở Việt nam, gia đình ông tan vỡ, nay đã có vợ lần thứ 3, là người Singapore. các vợ trước là người Mỹ và Thái lan. Có người yêu là một cô gái Tiền giang. Dr Nat yêu Việt nam, rất hào hiệp với Việt nam. Song là con người, Dr có những điểm yếu, hay mềm lòng, hay thay đổi,ngại nhiều thứ,nặng về tình cảm. Tôi gặp ông Nat tại một hội thảo của Nhật từ những năm 1995. Khi ông ấy thấy tôi xem rất kỹ cọc đá đầm chặt Geopier, phát minh sáng chế của Dr Nat. Sử dụng rất thành công tại Mỹ, Đức. Đã nhiều lần định đưa vào Việt nam.Hi vọng Dr Nat sẽ đến Việt nam. cả nhà sẽ có cơ hội gặp gỡ và trao đổi. Có thể cùng làm được nhiều thứ. Lần này có TS Bo, GS Del, Dr Asami, Dr Ta Ooi, Viện sĩ Hong , kỹ sư Bertil ...dự ngày 18/6- Ngày Địa kỹ thuật Việt nam là một thành công ngoài mong đợi, thật có ý nghĩa.
Đặc biệt Dr Del Fredlund và vợ sẽ sang Việt nam vào ngày 19/5 tới, dự đám cưới con nuôi tên là Thu ( tel 0985004572) vào ngày 22 tháng 5 . Thầy có dăn, ai gặp thầy, liên hệ để Thu bố trí. Công ty AA sẽ tổ chức gặp thầy vào tối 21/5. Vì tôi đi Trung quốc ngày 22/5. Ai dự được xin báo cho AA và tôi biết. Thầy ở Việt nam đến ngày 25/5. Ngày 18/6 thầy lại quay lại với chúng ta. Thật là quý một con người, một tấm lòng với Việt nam. Chúng ta có nhiều bạn. Và giàu lắm, hơn tiền bạc nhiều.
An lành, Tiên ------------------------------------------------------------------------------- Prof.Dr. Nguyen Truong Tien President of VSSMGE. President of VGI. President of Science and Technological Council of AA-Corp. Vice President of Hancorp. Head of Engineers Register Division of Vietnamese Federation of Civil Engineering Associations, VFCEA FF of ASEAN Academy of Engineering and Technology, AAET
Add : No 9 / Alley 44; Ham Tu Quan Str., Hoan Kiem, Hanoi. Mobile : (84) 90340 5769 Email: tien.nguyentruong@gmail.com
Đây là thư của TS Nat gởi GS Tiến về đề án đất gia cố vôi
Dr. Tien -
This is a serious inquiry.
What would it take to convince Vietnam to use hydrated lime (or quick lime) and cement stabilization for the highway expansion program in the Mekong area? Who would make the decision?
I am interested enough that I would be willing to make serious efforts to try to get this done. I have zero ulterior motives, including not making a cent in return for my help.
I would consider (if Lily will go along with it, and I am 95% certain that she would) living in Vietnam with Lily for a period of time (for now I would say 6-months), to help get this approval and coordination done. I would like to have housing provided to us for free, but nothing else.
I don't know if it would be feasible to somehow get the USA to provide the materials (lime and cement) free. I have no idea if there is any possibility of this, but I would be willing to work hard to find out. And I do have some good contacts.
An alternative would be to manufacture the hydrated lime in Vietnam - preferably in the Mekong Delta so transportation costs are lessened. I recall (hopefully correctly) that there are good sources of lime in the Mekong. I am sure you manufacture cement there. The lime is more important than the cement, but best if the subbase and in some cases, even subgrade, is lime-stabilized, and the base is lime and cement.
This I acknowledge is a near impossible challenge - to get the approval of Vietnam, and if appropriate, to try to get the USA to provide the materials free - or maybe for transportation costs only. Free is better.
Do you know if the stabilization equipment we shipped over to Vietnam in 1968 is in working order? These included some very good stabilization equipment.
To make this work, I would absolutely need your help on your end. I am confident that I can find some help on my end politically to at least give it a chance of working. I have one classmate who has accomplished a lot in his military and civilian careers, who also as you and I do, has a PhD in geotechnical engineering - and who built many miles of lime stabilized roads in the Mekong Delta for one year, I believe it was 1969-1970. He holds the Engineering Chair at West Point at the present time, and is a "friend of mine" (not really a close friend, but will definitely help me. And we are classmates).
You know, Dr. Tien, that this is the way highways should be built in the wet silty clay and clayey silt of the Mekong Delta. The moisture contents of soils throughout msot of the delta are just below (one or two percent) the liquid limits. We called the soils there "elephant shit". It would take years to dry, and then strength will be low and plasticity high. Lime stabilization was and is, perfect for these soils.
Please let me know your thoughts and if you have the interest and connections and energy to be a partner with me to get this done. I offer my consulting services full time for say 6 months in Vietnam for no fee, and I don't want to make a penny doing this. I am sure that Lily will be happy to join me in living there and accompanying me in this endeavor. If anyone could accomplish this - you and I could. I look forward to your response. It is a serious idea. Not sure how practical it is, because persons in high places in Vietnam will have to make the decision - and if the program needs free materials, then that requires a difficult decision to be made in the USA (or possibly a world organization. I feel more comfortable thinking USA, but you may know of opportunities from world/global organizations.
You know this would be good for your country.
Best regards,
Nat
_________________ Hãy chia sẻ thông tin bạn có, người khác sẽ cung cấp thông tin bạn cần.
Gia cố đất yếu, ẩm ướt, đất sét, đất dẻo chảy ở khu vực Đồng bằng song Cửu long, Việt nam bằng vôi thủy hóa và ximang – Các ưu điểm và bài học kinh nghiệm
Tiến sỹ Nathaniel (Nat) Fox
Hydrated Lime and Lime-Cement Stabilization of the Soft, Wet, Plastic,
Clayey Soils in Vietnam’s Mekong Delta Area
Advantages and Lessons Learned
By Dr. Nathaniel (Nat) Fox
Mục đích của tài liệu này và các thảo luận đi theo là cung cấp thông tin cho những nhà hoạch định chính sách Việt Nam, kể cả quan chức chính phủ hoặc các công ty tư nhân, hoặc cả hai, để xem xét một cách nghiêm túc các ưu điểm của phương pháp gia cố vôi – ximang trong việc mở rộng hệ thống giao thông trong tương lai trong khu vực đồng bằng song Cửu Long, Việt Nam.
The objective of this paper and associated talk is to provide Vietnam decision makers, whether government, private, or both, information from which to seriously consider the advantages of using hydrated lime stabilization in future expanding of the highway system in the Mekong Delta area of Vietnam.
Tất nhiên vấn đề giá thành phải được xem xét kỹ lưỡng. Tuy nhiên trong trường hợp xây dựng nền đường đắp và mặt đường trong khu vực đồng bằng song Cửu Long, nơi có mực nước ngầm cao, đất yếu và thường xuyên ẩm ướt, đất sét trạng thái dẻo, giá thành phải được so sánh trên cơ sở cả vòng đời thiết kế, bao gồm cả các chi phí duy tu và sửa chữa trong tương lai, cũng như các chi phí thiệt hại do đình trệ giao thông khi phải tiến hành các hoạt động sửa chữa trên. Một nhân tố quan trọng khác để xác định giá trị thực của dự án là thời gian thi công. Cần phải mất bao lâu để thi công 1Km đường ? Trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đã và có thể thi công hoàn thành một mặt đường xa lộ rộng 40 foot (m) với tốc độ 1 Km trong 5,3 ngày. Tốc độ này được tính toán bằng cách chia tổng thời gian 150 ngày tương đương với 5 tháng thi công hoàn thiện 28 Km đường bằng đất gia cố vôi, được thực hiện vào năm 1969 dưới các điều kiện thi công thấp hơn so với điều kiện lý tưởng.
Certainly costs must be considered.However in the case of building embankments and highways within the high groundwater, soft, wet, plastic clayey soils in the Mekong, costs should be based on lifetime costs including future maintenance and repair costs, as well as with the costs of accompanying interruption of traffic during maintenance and repair.Another major factor in determining true costs is time of construction.How long does it take to construct one kilometer of highway?It has been done and can be done in the Mekong area, to produce a 40-foot wide highway surface, at a speed one kilometer in 5.3 days.This was calculated by dividing 150 days = 5 months, by 28 kilometers of lime-stabilized highway which was built in 1969 under less than ideal conditions.
Việc sử dụng vôi thủy hóa để gia cố đất làm đường giao thông đã có lịch sử thành công từ lâu và được áp dụng rộng rãi trên thế giới, bao gồm cả ở Hoa Kỳ.Tất nhiên gia cố vôi cũng không được sử dụng một cách thông dụng ở rất nhiều khu vực nơi có đất sét loại có tính năng phản ứng mạnh với gia cố vôi, là loại đất sét có chứa Smectite và khoáng vật sét trương nở. Ví dụ ở Hoa Kỳ, Sở giao thông bang Texas đã sử dụng phương pháp gia cố vôi thành công với thời gian trên 60 năm. Bang Lousiana cũng đã sử dụng đất gia cố vôi trong đường giao thông từ hàng thập kỷ và bang Iowa cũng làm tương tự. Nhưng cũng ở các bang lân cận, nơi có điều kiện về loại đất nền tương tự, địa chất tương tự, cũng trong khoảng thời gian đó lại không sử dụng phương pháp này. Việc này có vẻ tùy thuộc vào vài cá nhân ở các bang hoặc các vùng cá biệt, khởi động thực nghiệm phương pháp này và tổ chức để cho các nhà hoạch định chính sách quan sát kiểm chứng các ưu điểm và ra quyết định cho phép sử dụng. Do vậy tôi đang muốn hướng lời khẩn cầu đến những nhà hoạch định chính sách xây dựng giao thông ở Việt nam.
There has been a long-time successful use of hydrated lime, or “lime” stabilization for highway construction worldwide, including in the USA.Yet it is not in common use in many places where there are clayey soils highly reactive to lime stabilization – clayey soils that contain Smectite and expansive clay minerals. For example in the USA, the state of Texas Highway Department has been successfully using lime stabilization methods for more than 60 years.The State of Louisiana has also been using highway lime stabilization for decades, as has the State of Iowa.Yet adjacent states with similar soil conditions, and similar geology, oftentimes have not used this method.It seems to depend on some individual in a particular state or location, initiating the method, and then for the decision makers to observe the advantages, and authorize its use.Thus I am appealing to Vietnam highway construction decision makers.
Vào năm 1967, sau khi lấy bằng Tiến sỹ về Địa Kỹ thuật – Cơ học đất tại Đại Học Quốc gia Iowa, tôi đã tình nguyện sang Việt Nam làm việc với chức danh Kỹ sư Cơ học đất của Hiệp hội Kỹ sư Quân sự. Sau khi được chấp nhận đơn tình nguyện, tôi đã được phái đến Bắc Carolina ở đó tôi đã trợ giúp cho việc khởi động một đơn vị nghiên cứu kỹ thuật có định hướng gồm 11 người, bao gồm cả tôi với chức danh Kỹ sư Cơ học đất.
In 1967, after having earned a Ph.D. degree in soil (geotechnical) engineering at IowaStateUniversity, I volunteered to go to Vietnam as a Soil Engineer with the Army Corps of Engineers.After volunteering, I was sent to North Carolina where I helped activate a small, technically-oriented engineering and planning unit of eleven persons, including myself as the Soil Engineer.
Chúng tôi cũng có một Kỹ sư địa chất, một kỹ sư Xây dựng, một Kỹ sư Thiết kế, một trung cấp kỹ thuật kinh nghiệm và hai quản lý hành chính. Chúng tôi đã trang bị một phòng thí nghiệm đất di động hoàn chỉnh ở Bắc Carolina và di chuyển đến Việt Nam bằng tàu biển vào tháng 7 năm 1967, với toàn bộ phòng TN đất này.
We also had a geologist, a civil engineer, a planner, a senior engineering technician, four engineering technicians, and two administrative managers.We assembled a complete portable soil laboratory in North Carolina, and traveled by ship to Vietnam in July, 1967, taking the soil lab with us.
Ngay khi đến Việt Nam, tôi đã nghiên cứu tình trạng của đất nước này trên quan điểm về địa kỹ thuật để tìm xem đâu là vấn đề nghiêm trọng nhất về nền đất. Chỉ sau vài ngày, đã có thể khẳng định rằng vùng khu vực cần ưu tiên nhất với khó khăn về nền đất cần xử lý là khu vực đồng bằng Sông Cửu Long. Tôi đã đệ trình đề xuất để đặt phòng thí nghiệm đất của chúng tôi ở khu vực này và đã cố gắng tập trung phát triển các giải pháp xử lý nền đất tại đây. Vấn đề ưu tiên số 1 cần khắc phục là sự hư hỏng của đường giao thông, xa lộ và đường sân bay do lượng mưa lớn và triều cường tác động lên nền đất sét yếu, dẻo mềm. Vấn đề này cũng đi kèm với một thực trạng là với các loại đất kể trên, rất khó khăn để gia cường hoặc thao tác thi công để xây dựng hoặc sửa chữa / thay thế các con đường, xa lộ hoặc sân bay. Đây là vấn đề rất nghiêm trọng.
Upon arriving in Vietnam, I studied the situation in country from a geotechnical standpoint to learn where the most severe soil problems were occurring.Within several days it became evident that the primary area of major soil difficulties was the Mekong Delta region.I submitted a proposal to set up our soil lab in the Mekong Delta and to attempt to develop solutions to the soil problems.The primary problem was failure of roads, highways, and airfields as a result of heavy monsoon rains on the weak, plastic, clayey soils.Equally problematic was the fact that these soils could not be easily improved or easily worked to build or rebuild roads, highways, and airfields.This was a severe problem.
Tôi đã đề xuất một chương trình thực nghiệm gồm 3 giai đoạn, bao gồm giai đoạn làm việc trong phòng thí nghiệm, giai đoạn áp dụng thử trên quy mô nhỏ ở hiện trường và giai đoạn thực hiện trên quy mô rộng để kiểm chứng phương án gia cố đất bằng vôi thủy hóa. Đề xuất này đã được phê duyệt.
The undersigned proposed a 3-phase testing program, consisting of a laboratory phase, a small-scale field construction phase, and a large-scale field construction phase to examine the feasibility of hydrated lime stabilization as the solution.The proposal was approved.
Kèm theo các tấm ảnh mà cá nhân tôi đã chụp trong khoảng thời gian tháng 8 năm 1967 đến tháng 7 năm 1968, bài thảo luận của tôi minh họa những gì đã làm, các bài học rút ra, làm thế nào để các thông tin này được sử dụng và có thể xem như là một dự án sử dụng đất gia cố bằng một loại hóa chất có quy mô lớn nhất trong thời gian đó. Hơn 4 năm sau chương trình thực nghiệm và xây dựng chương trình thi công, đã có khoảng 150 đến 200 Km đường quốc lộ, một số lượng rất lớn đường cấp thấp hơn và một lượng đường băng sân bay quy mô nhỏ và vừa đã được xây dựng, áp dụng công nghệ gia cố vôi cho lớp đỉnh nền và trong một số trường hợp, được thi công lớp móng phía trên bằng vật liệu gia cố ximang và vôi.
Accompanied by photographs I personally took between August, 1967 and July, 1968, my talk illustrates what was accomplished, what was learned, and how this information was put to use for perhaps the largest single chemical soil stabilization project in recent history.Over the four years following my testing and design and construction program, between 150 and 200 kilometers of highway, numerous kilometers of secondary roads, and a number of small and medium sized airfields were built or significantly expanded, by use of hydrated lime subbase construction and in some cases, accompanied by lime and cement base course construction.
Tôi đã gặp và làm quen được hai kỹ sư phụ trách công tác thi công mở rộng Quốc lộ 4 ở khu vực ĐB SCL sau khi tôi rời Việt Nam. Mặc dù tôi không có đủ tư liệu ghi chép của tất cả các hệ thống đường được xây dựng ở Việt Nam áp dụng công nghệ gia cố vôi và xi măng, nhưng hai cá nhân trên đã trực tiếp giám sát khoảng 30-40% của toàn bộ công tác đất gia cố vôi trong 4 năm từ 1969 đến 1972. Hai người này phụ trách việc thi công trên 60 KM đường sử dụng công nghệ gia cố vôi trên khu vực ĐB SCL. Như vậy có thể ngoại suy rằng đã có tổng cộng khoảng 150 đến 200Km đường sử dụng đất gia cố vôi đã được xây dựng trong khoảng thời gian 4 năm này.
I have met and gotten to know, two engineers who were in charge of building and expanding Mekong Highway QL4 after I left Vietnam.Although I do not have complete records of all highway segments built in Vietnam using lime and lime and cement stabilization, these two individuals supervised an estimated 30% to 40% of the lime stabilization work done in the four years from 1969 through 1972.These two were responsible for constructing over 60 kilometers of lime-stabilized highway in the Mekong area.Extrapolating, a total of 150 to 200 kilometers of lime-stabilized highway are estimated to have been built during this four-year time period.
Một trong hai người này là Kỹ sư Thiết kế chuyên nghiệp và là Tiến sỹ Khoa học ngành Xây dựng Công trình. Ông ta đã thực hiện công việc thiết kế và giám sát thi công cho đến lúc hoàn thành 28 Km đường quốc lộ từ Mỹ Thuận đến Bà Công trong khu vực ĐBSCL, từ ngày 1 tháng Giêng năm 1969 đến 31 tháng 5 năm 1969, chỉ trong khoảng thời gian đúng 5 tháng. Chúng tôi đã có rất nhiều thông tin xác nhận nỗ lực này. Nếu tiến hành ngoại suy cho thời gian 4 năm với tốc độ như trên, nó sẽ cho kết quả khoảng 270 KM đường đã được xây dựng. Con số này đúng là quá cao, do vậy sự ước lượng gần đúng nhất sẽ nằm trong khoảng 150 đến 200 KM đường quốc lộ hoặc diện tích tương đương của các loại đường khác và sân bay. Một nhân tố bổ sung khác là có một số đường quốc lộ và đường khác áp dụng công nghệ gia cố vôi đã được thực hiện trên khu vực ĐBSCL trong khoảng 3 đến 4 tháng của năm 1968. Chương trình xây dựng đường áp dụng công nghệ gia cố vôi trên ĐBSCL đã được thực hiện trong khoảng 52 tháng.
One of these persons was a professional planner as well as a Ph.D. Civil Engineer.He was able to plan and supervise the completion of 28 kilometers of highway from My Thuan to Ba Cong in the Mekong, from January 1, 1969 to May 31, 1969, a period of only 5 months.We have considerable information from this effort.If this productivity were extrapolated for the four-year period, it would result in a total of 270 kilometers of highway.This is probably too high a number, so our best estimate of total lime stabilized highway constructed in the Mekong area of Vietnam remains between 150 and 200 kilometers of highway or equivalent roadway and airfield construction.As an added factor, some highway and road lime stabilization production was accomplished in the Mekong within the last 3 or 4 months of 1968.The lime stabilization highway construction program in the Mekong was active for approximately 52 months.
Các ưu điểm của gia cố vôi thu được từ kinh nghiệm thực hiện ở khu vực ĐBSCL cũng như các nơi khác trên thế giới, bao gồm cả ở Mỹ, được thống kê dưới đây:
The advantages of hydrated lime stabilization as specifically experienced in the Mekong Delta area, and also as experienced in other parts of the world, to include the USA, include the following:
1.Thi công liên tục và nhanh chóng do cải thiện được tính công tác của đất
2.Thay đổi gần như ngay lập tức tính dẻo, khi đất thay đổi từ một khối dẻo sang khối đất cứng giòn.
3.Độ ổn định và cường độ tăng lên đến 3000 %
4.Có sức kháng lại sự thấm nước và phong hóa đất trong tương lai
5.Tuổi thọ và thời gian phục vụ lâu dài.
6.Tồn tại bền vững – tăng cường độ theo thời gian nhờ quá trình đông kết Puzolan
7.Thân thiện với môi trường
8.Chi phí thu lại tính bằng USD cho mỗi năm sử dụng
9.Chi phí tiết kiệm do loại bỏ được kinh phí duy tu
10.Chi phí tương ứng với sự phát triển bền vững và thân thiện với môi trường
Tôi khuyến cáo một cách mạnh mẽ các nhà hoạch định chính sách của Việt nam xem xét một cách nghiêm túc việc sử dụng đất gia cố vôi cho công tác thi công lớp móng dưới, và khả năng dùng gia cố vôi hoặc ximang cho các lớp móng trên, để đảm bảo đáp ứng các nhu cầu về xây dựng và mở rộng hệ thống đường giao thông trong khu vực ĐBSCL. Tôi hiểu rằng có các điểm cung cấp vật liệu đá vôi và các mỏ đá vôi lộ thiên ở ĐBSCL cũng như ở các địa phương khác ở Việt Nam, có thể sử dụng để sản xuất lượng vôi thủy hóa cần thiết, vì một trạm nghiền đơn giản có thể lắp đặt ngay gần nguồn đá vôi để sản xuất vôi thủy hóa. Một phương án khác có thể xem xét là nhập khẩu vôi thủy hóa từ Nam Hàn hoặc các khu vực khác của Châu Á, sản phẩm dạng bột khô hoặc viên.
I encourage Vietnam decision makers to seriously consider the use of hydrated lime for subbase construction, and possibly lime and cement for base course construction, to meet your highway construction and expansion needs in the Mekong.I understand that there are limestone deposits and outcrops in the Mekong and also in other parts of Vietnam, that would be usable to produce the necessary hydrated lime, and a simple plant could be set up near the resource area to manufacture hydrated lime.Alternatively, or in addition, hydrated lime is available for purchase in South Korea and other areas of Asia – both in dry form and in pellet form.
Tôi rất vui thông báo cho các cá nhân hoặc tổ chức, hoặc công ty có quan tâm nghiêm túc trong nỗ lực này để :
1.Các vấn đề về quản lý chất lượng
2.Các kỹ thuật thi công chủ yếu
3.Các lưu tâm về thiết kế đường giao thông
Tôi có một người bạn là Kỹ sư đã tham gia thiết kế và thi công 28 Km đường quốc lộ ở ĐBSCL, từ Mỹ Thuận đến Ba Công, là Tiến sỹ Bud Griffis. Bud đã nói với tôi một vài tuần trước đây rằng ông ta cũng rất vui được cung cấp các tư vấn về thiết kế cho các công việc kế trên. Đồ án thiết kế cho 28 Km đường quốc lộ trong vòng 5 tháng là một một sự kiện hiếm có. Và các hoạt động sau đó đã rất thành công đáp ứng được tiến độ sát sao này. Bạn có thể tượng tượng việc thi công 28 KM đường quốc gia với tiêu chuẩn chất lượng cao với tốc độ trung bình 1KM trong 5,3 ngày, trong điều kiện về đất yếu và thời tiết như ở khu vực ĐBSCL ? Vâng, điều này đã được thực hiện dưới sự giám sát củaBud Griffis.
I would be happy to advise any person or agency or company that is seriously interested in this endeavor on: (1) critical quality control issues; (2) key construction techniques; and (3)highway design considerations.I am a personal friend of the engineer who planned and supervised the 28 kilometers of highway construction in 1969 between My Thuan and Ba Cong - Dr. Bud Griffis.Bud told me several weeks ago, that he also will be happy to provide planning advice for such an undertaking.His planning for constructing 28 kilometers of highway in 5 months, most of it 40 feet wide at the surface, was exceptional.And the operation wassuccessful in meeting this stringent schedule.Can you imagine building 28 kilometers of high quality highway at an average rate of one kilometer per 5.3 days, considering the Mekong Delta soil and weather conditions?Yet it was accomplished under the supervision of Bud Griffis.
Một điểm cuối cùng tôi muốn đề cập, đó là khi tôi cùng vợ tôi là Lily ghé thăm khu vực ĐBSCL vào năm 2002 và đã có đi thị sát một loạt đường đã áp dụng công nghệ gia cố vôi hơn 40 năm qua. Theo bản thiết kế của tôi, mặt đường có thời gian phục vụ thiết kế là 10 năm. Những người dân địa phương gọi những đường này với cái tên “đường Mỹ làm”. Họ đã xác nhận rằng đã không cần công tác sửa chữa lớn nào trong suốt 40 năm, kể từ ngày người Mỹ thi công những con đường này. Thực chất kỳ tích này không phải là do người Mỹ xây dựng, mà là nhờ biện pháp thi công đất gia cố vôi phù hợp, được tổ chức chu đáo và có các thiết bị chuyên dụng, với các nỗ lực cao. Người Việt Nam cũng có thể xây dựng những con đường như vậy, với thiết kế phù hợp, thiết bị chuyên dụng và các nỗ lực trong thi công. Chỉ có một lời khuyênCông nghệ gia cố vôi khi được thi công đúng đắn sẽ không yêu cầu nhiều kỹ nghệ phức tạp. Tuy nhiên để đảm bảo cho sự thi công đúng đắn này thì cần phải có các bước đi tối thiểu sau đây mà không được bỏ qua trong bất kỳ trường hợp nào. Nếu không tuân thủ các bước này thì sẽ không đảm bảo chắc chắn về thành công.
As a final selling point, when I visited Vietnam in 2002 with my wife, Lily, we went to the Mekong Delta and toured some of the highway areas that had been lime-stabilized more than 40 years ago.My designs for these roads were based on a 10-year life span.The local Vietnamese people referred to these highway segments as the “American Road”.They explained that no major maintenance had been needed in 40 years since the Americans built them.This feat was not because the Americans built them.It was because the proper method of construction was used – hydrated lime stabilization, and the work was well planned and managed, with adequate equipment.Vietnam can build them as well - with the proper planning, equipment, and effort.One piece of advice - Lime stabilization correctly constructed is very forgiving.But getting it correctly constructed requires following critical steps without exception.Not following these steps will prove unforgiving.
_________________ Hãy chia sẻ thông tin bạn có, người khác sẽ cung cấp thông tin bạn cần.
Bạn không có quyền gửi bài viết Bạn không có quyền trả lời bài viết Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
Thời gian được tính theo giờ [GMT+ 7 giờ]
Trang 1 trong tổng số 1 trang